Trong tổng số 150 bài thơ tống biệt ấy, bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng được coi là bài thơ hay nhất. Ở trong hai câu thơ đầu tiên, tác giả Lí Bạch đã khắc họa lại khung cảnh đưa tiễn, và thời điểm diễn ra khung cảnh đưa tiễn ấy Bài thơ "Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng" là một trong những bài thể hiện rõ đặc trưng thơ ông. "Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu Cô phàm viễn ảnh bích không tận Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu''. Mở đầu bài thơ tác giả đã giới thiệu cố nhàn là người tri âm tri kỉ. TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)I. TÁC GIẢ _ TÁC PHẨM. 1. Lí Bạch (701 - 762), tự Thái Bạch, nguyên quán ở tỉnh Cam Túc, lớn lên ở Tứ Xuyên, Trung Quốc. Bạn đang xem nội dung tài liệu Bài giảng Ngữ văn 10 - Tiết 44: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng) (Lí Bạch, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút TẢI VỀ ở trên Ngày soạn Ngày giảng Lớp Sĩ số 10A 10C 10D Tiết 59 TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG Lí Bạch I. MỤC TIÊU BÀI HỌC. 1. Kiến thức: - Tình cảm chân thành, trong sáng, cảm động của nhà thơ đối với bạn. - Hình ảnh, ngôn ngữ thơ tươi sáng, gợi cảm. 2. Kĩ năng: - Đọc - hiểu văn bản theo đặ dj1Qncw. Nếu ở phương Tây, Victor Hugo viết lời thành kính gửi người bạn quá cố Honore Balzac thì sang đến phương Đông, Nguyễn Khuyến và Lý Bạch lại chọn cách sáng tác thơ để tiễn đưa người bạn vong niên. Trong đó, phải kể đến Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng của Lý Bạch. Không chỉ dụng tâm sáng tác, nhà thơ còn cất công đến bờ sông gửi tặng người bạn Mạnh Hạo Nhiên. Đôi nét Lý Bạch và tác phẩm Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Lý Bạch là nhà thơ nổi tiếng bậc nhất thời Đường, được ca tụng là vị “Thi tiên” vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc. Năm mười sáu tuổi, cái tên Lý Bạch đã nổi tiếng khắp Tứ Xuyên nhưng với tính cách tự do, phóng khoáng, chán chường nhân gian nên ông đã bắt đầu cuộc đời ẩn sĩ. Số lượng bài thơ mà Lý Bạch đã sáng tác lên tới hơn hai nghìn bài, thế nhưng ông làm xong bài nào thì vứt bài đó, chịu ảnh hưởng của biến cố loạn An Lộc Sơn nên thơ ông bị mất nhiều. Trải qua năm tháng thăng trầm của lịch sử, nhờ nỗ lực thu thập của nhân dân và giới chuyên môn, tác phẩm của nhà thơ hiện tồn tại trên dưới một nghìn bài. Văn chương Lý Bạch đến nay phần lớn có được là do sưu tầm Thơ Lý Bạch có sự viển vông, tưởng tượng, ít đụng chạm đến chuyện thế sự nhưng vẫn có nét hoài cổ. Thơ ông thường thể hiện ước mơ đi đến lý tưởng cao cả, khát vọng giải phóng cá nhân trước sự hiện thực tầm thường, đồng thời thể hiện tình cảm thiên nhiên, bạn bè bằng hữu. Là một nhà thơ nổi tiếng của Trung Hoa, lại ưa lối sống phóng khoáng nên Lý Bạch quen biết được rất nhiều bạn thuộc nhiều tầng lớp khác nhau. Với mỗi người bạn, ông đều dành cho họ thứ tình cảm chân thành, đối đãi nồng hậu. Ta tới đây, cũng không biết là vì sao đây? Mà nằm dài trong thành Sa Khâu Ngoài thành có cây cổ thụ Ngày đêm xào xạc tiếng thu Rượu nước Lỗ không thể làm ta say Ca xướng nước Tề cũng không hợp lòng ta Nhớ anh như là sông Vấn Dào dạt chảy về nam. – Sa Khâu thành hạ ký Đỗ Phủ Năm 727, Lý Bạch du ngoạn ở mạn đông về tới Hồ Bắc. Tại đây ông đã giao lưu, tiếp xúc với nhiều tài tử giai nhân, trong đó có Mạnh Hạo Nhiên, người hơn ông mười hai tuổi. Mạnh Hạo Nhiên vốn là một nhà thơ nổi tiếng của phái Điền Viên Sơn Thủy, từng làm quan nhưng không thấy phù hợp nên sớm lui về ở ẩn. Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên khi ấy đều coi trọng tài năng và nhân cách của đối phương, liền coi nhau như trí cốt. Tháng Ba năm 730, biết tin Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng và ngang qua Giang Hạ, Lý Bạch đã nhờ người mang thư hẹn gặp ở đó. Mấy hôm sau, Mạnh Hạo Nhiên đi thuyền xuôi dòng tới nơi, Lý Bạch tới tận bờ sông tiễn bạn và sáng tác bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng. Cảnh đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên của Lý Bạch Giống như những cuộc chia ly khác trong bức tranh thơ Đường, cuộc chia tay giữa Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên được diễn ra bên bờ sông. Hai câu thơ mở đầu bài thơ, thi nhân nói về hoàn cảnh đưa tiễn Hạo Nhiên Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu Dịch thơ Bạn từ lầu Hạc lên đường, Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng Hai chữ “cố nhân” trong nguyên văn nói về người bạn đã gắn bó từ lâu, một người mà nhà thơ rất trân trọng và yêu mến. Tuy nhiên ở bản dịch, Ngô Tất Tố chung thành với từ “bạn” nên chưa thể lột tả hết được tình cảm, sắc thái biểu cảm trong nguyên tác. Nhờ có tính biểu cảm nên chỉ cần đọc hai chữ “cố nhân”, độc giả cũng đủ thấy tình cảm bền chặt, mối quan hệ sâu sắc của hai người. Xa bạn cũ, còn là người bạn thân thiết từ lâu, ắt hẳn nhà thơ rất buồn nên cuộc chia tay diễn ra đầy bịn rịn, luyến lưu. Bài thơ thể hiện mối quan hệ bền chặt của hai thi nhân Địa điểm Hoàng Hạc lâu hay lầu Hoàng Hạc gắn liền với nhiều câu chuyện xưa, điều ấy càng gia tăng tính nghệ thuật cho câu thơ. Tương truyền có vị tiên tên Tử An từng cưỡi hạc qua đây, cũng có thuyết kể rằng thời Tam Quốc, Phí Văn Vĩ từ đây cưỡi hạc lên tiên giới. Cuộc chia tay diễn ra vào tháng Ba, tháng của mùa xuân, mùa hoa khói, mùa của sự khởi đầu, tượng trưng cho những điều tốt đẹp. Cụm từ “yên hoa tam nguyệt” có nhiều cách dịch khác nhau, bản dịch chung thành “mùa hoa khói” nhưng còn thiếu cụm từ “tam nguyệt”, tức tháng thứ Ba của mùa xuân. Đương thời bình, Lý Bạch tiễn bạn từ lầu Hoàng Hạc đến một Quảng Lăng, chốn phồn hoa đô hội nên khung cảnh không có những giọt lệ đầm đìa. Thế nhưng không thể tránh khỏi cảm xúc buồn thương, tiếc nuối khi phải chia xa. Nỗi lòng của thi nhân trong Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Cuộc chia tay nào rồi cũng đến hồi kết nhưng cơn sóng lòng trong người đi kẻ ở thì khó nguôi ngoai. Trước khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, rộng lớn, con người bỗng trở nên nhỏ bé, trống trải khi thiếu đi tri kỷ. Nỗi lòng thi nhân trong Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Giang Nam thời Thịnh Đường vốn là chốn đô thị sầm uất, tấp nập kẻ đến người đi với phương tiện đi lại chủ yếu bằng thuyền. Trường Giang vốn là dòng sông lớn nổi tiếng của Trung Quốc, ắt hẳn sẽ có nhiều chiếc thuyền khác trên dòng sông này. Cô phàm viễn ảnh bích sơn tận Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu. Dịch thơ Bóng buồm đã khuất bầu không, Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời. Dòng Trường Giang vốn sôi động, tấp nập thuyền qua lại, vậy mà Lý Bạch chỉ chú ý duy nhất đến con thuyền ngày một khuất bóng của bạn mình. Đây không còn là cái nhìn lí trí của nhà thơ mà là cái nhìn của tâm tưởng, cảm xúc đang trào dâng. Tại câu thơ thứ ba, bản dịch thiếu mất nghĩa chữ “cô” trong cô đơn và lẻ loi, đó là từ ngữ quan trọng, thể hiện nội tâm của Lý Bạch. Ngoài ra, bản dịch chưa đề cập đến “bích sơn tận” hay “viễn ảnh”, có nghĩa là bóng cánh buồm xa mờ. Chiếc thuyền buồm lẻ loi đưa Mạnh Hạo Nhiên đi dần, tan biến theo cái vô tận của sông nước, dòng sông càng lớn thì chiếc thuyền càng nhỏ. Sự cô đơn của chiếc thuyền là tâm trạng chung của Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên, bằng hình ảnh cánh buồm đơn độc, nhà thơ vừa miêu tả quang cảnh nơi tiễn đưa bạn, vừa bộc lộ được nỗi lòng bản thân. Sự cô đơn của chiếc thuyền là tâm trạng chung của Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên Cái tài tình của nhà thơ ở chỗ, vừa bộc bạch được nỗi buồn của sự ly biệt đồng thời khắc họa khung cảnh thiên nhiên đất trời hùng vĩ, phóng khoáng. Sử dụng nghệ thuật miêu tả tâm cảnh, qua hình ảnh cánh buồm đơn độc đã khẳng định sự trân trọng tình bạn cao đẹp của Lý Bạch. Hình ảnh “bích sơn tận” diễn tả khoảng không gian xanh, không biết sắc xanh đó từ trời hay từ nước, chỉ biết rằng nó quá rộng lớn để có thể nhận biết. Trái ngược với đó là sự nhỏ bé, cô đơn, lẻ loi của “cô phàm”. Nếu “cô phàm viễn ảnh” giống như tiêu điểm thì “duy kiến” là hình ảnh thu được. Tất cả nỗi buồn của nhà thơ được mang theo cùng ánh nhìn xa xăm, luôn dõi theo bóng thuyền Mạnh Hạo Nhiên ngày một xa dần. Đó là quan hệ tương phản giữa cái vô hạn của vũ trụ với cái hữu hạn của đời người, giữa cái mênh mông của đất trời với cái lẻ loi của con người. Để rồi đằng sau đó là sự cô đơn, lẻ loi và trống trải của một tâm hồn chứa chan tình cảm. Nghệ thuật đặc sắc của Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Thông thường khi nói về những cuộc chia ly, các nhà thơ đa phần miêu tả hành động, cử chỉ kèm theo ngôn ngữ của đôi bên. Tuy nhiên trong bài Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Lý Bạch không cho thấy sự xuất hiện của giọt lệ hay lời trăn trở, đau buồn. Bài thơ mang nhiều dấu ấn nghệ thuật của Lý BạchBằng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đầy tinh tế, Lý Bạch đã phá vỡ các quy chuẩn ngôn từ, không miêu tả quá nhiều về người ra đi mà chỉ tập trung tả cảnh thiên nhiên bao la. Thế nhưng, chính sự hùng vĩ của sông núi, đất trời lại ẩn chứa một nỗi lòng sâu kín của thi nhân. Sử dụng tính chất “ý tại ngôn ngoại”, lời cùng ý thơ bất tận trong Đường thi, cấu trúc không gian hai điểm nút “cận – viễn” là một thủ pháp hội họa. Lý Bạch đã tạo nên một bài thơ có sự giao hòa giữa thiên nhiên và con người, giữa cái vô hạn và cái hữu hạn. Lý Bạch còn là một người có tính cách đằm thắm, trọng ân tình bằng hữu. Tình bạn của ông và Mạnh Hạo Nhiên là minh chứng rõ nhất cho sự chân thành, sâu lắng của một “Thi tiên”. Phương Anh Các em hãy cùng Phân tích Tại lầu Hoàng Hạc tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng để thấy được tình bạn, tình tri kỉ cảm động của Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên trong giây phút chia li. Bài văn mẫu dưới đây sẽ cung cấp thêm những thông tin thú vị để các em có thể tự hoàn thành bài phân tích của mình. Bài viết liên quan Cảm nhận về tình bạn giữa Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên trong bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Sơ đồ tư duy bài Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Khái quát đặc sắc về nội dung và nghệ thuật bài Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng Phân tích bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Dàn ý cảm nhận về tình bạn giữa Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên trong bài Tại lầu Hoàng Hạc tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Đề bài Phân tích Tại lầu Hoàng Hạc tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng LăngMục Lục bài viếtI. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài 2. Thân bài 3. Kết bàiII. Bài văn mẫu Phân tích Tại lầu Hoàng Hạc tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng LăngI. Dàn ý Phân tích Tại lầu Hoàng Hạc tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng 1. Mở bài- Giới thiệu về tác giả và phong cách sáng Dẫn và bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng. 2. Thân bàia. Hoàn cảnh sáng tác Tự tìm hiểu.b. Hai câu thơ đầu Cảnh đưa tiễn bạn hiền của thi nhân* Bối cảnh không gian- Hoàng Hạc lâu+ Là nơi chia tay của Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên.+ Nằm ở Vũ Hán, Hồ Bắc, về phía tây so với thành Giang Tô tức là Quảng Lăng và Dương Châu cũ.+ Là cảnh sắc thần tiên, tượng trưng cho sự thanh tĩnh, yên bình, tao Dương Châu Quảng Lăng+ Là nơi đến của Mạnh phu tử.+ Nằm ở phía đông của tỉnh Giang Tô ngày nay.+ Chốn phồn hoa đô hội bậc nhất, tượng trưng cho không gian động, nhộn Trường Giang Là dòng sông huyết mạch nối liền hai hướng đông tây, đưa Mạnh Hạo Nhiên đi từ chốn ẩn cư về nơi đô hội.=> Không gian rộng lớn, mênh mông.* Thời gian- "Yên hoa tam nguyệt" Tức là mùa xuân hoa nở "Tam nguyệt" là chỉ khoảng thời gian hoa nở rực rỡ và nhiều nhất, thời tiết ấm áp, trong "Yên hoa" Chính là chỉ cảnh hoa nở trắng xóa diễm lệ như sương khói hai bên bờ sông, phụ là chỉ cảnh sương khói trên sông nước phủ lên trên rừng hoa tạo nên cảnh "hoa khói" lạ lùng.* Con người- "Cố nhân" Gợi ra mối quan hệ giữa người đi kẻ ở, đó là mối quan hệ bằng hữu đã thành tri kỷ, gắn bó sâu Hai câu thơ sau Nỗi lòng của thi nhân* Câu thơ thứ 3 "Cô phàm viễn ảnh bích không tận"- "Cô phàm" Cánh buồm lẻ loi, cô độc, một là gợi ra ánh mắt chăm chú vào cánh buồm đang rời đi của bạn, hai là thể hiện nỗi cô đơn, lạc lõng trong tâm hồn tác "Viễn ảnh" Gợi ra ánh mắt đau đáu theo hướng bạn rời đi, thể hiện tình cảm gắn bó tha thiết, nỗi mong nhớ khi bạn đi "Bích không tận" Màu xanh gợi ra sự lạnh lẽo, cô đơn trong cõi lòng tác giả.* Câu thơ thứ 4 "Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu"- Đặt trong mối quan hệ "có - không - có" , từ việc nhìn thấy dòng sông và mảnh trời mênh mông, gợi ra sự mất hút của bóng thuyền bạn hiền, từ đó gợi ra nỗi nhớ thương, tình cảm tha thiết của người ở Kết bàiTổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật. II. Bài văn mẫu Phân tích Tại lầu Hoàng Hạc tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng LăngCùng với Đỗ Phủ, Lý Hạ, Vương Duy thì Lý Bạch chính là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất thời thịnh Đường, và được người đời tán dương ca tụng là thi tiên. Ông là một trong những nhà thơ có công lớn nhất đã mở ra thời đại hưng thịnh vượt bậc của Đường thi, với phong cách thơ theo chủ nghĩa lãng mạn, bay bổng tựa như một vị tiên nhân chốn phàm trần. Với thiên phú dị bẩm trong thi ca, ông đã sáng tác và để lại cho hậu thế hàng ngàn bài thơ bất hủ, thậm chí nhiều bản thơ của ông đã được dịch sang cả tiếng nước ngoài. Các chủ đề mà Lý Bạch, nhà thơ yêu rượu, kính rượu hướng tới thường là mối quan hệ bằng hữu thân tình, những sự lạ lùng kỳ bí của thiên nhiên cây cỏ, hoặc là để kín đáo bộc lộ những tâm trạng thầm kín sâu trong lòng đi kèm với thú chơi tao nhã - uống rượu làm thơ của mình. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của thi tiên Lý Bạch với chủ đề tán dương, ngợi ca tình cảm bạn bè, đã trở thành bài thơ quen thuộc với nhiều độc giả yêu thơ. Đặc biệt là câu thơ "Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu" dường như đã trở thành câu cửa miệng của nhiều Bạch là người ưa ngao sơn ngoạn thủy, đặc biệt là trong 10 năm sau khi rời khỏi cung cấm ông lại càng có dịp đi nhiều nơi. Ông từng qua Triệu, Ngụy, Tề, Tần, Lương, Tống, các vùng Bân, Kỳ, Thương, Ư, Lạc Dương, các sông Hoài, sông Tứ... chính vì đi nhiều nơi nên ông có dịp được hội ngộ nhiều bậc kỳ tài, văn chương, tài học đều lỗi lạc. Trong đó có Đỗ Phủ, Sầm Tham, Cao Thích,... và Mạnh Hạo Nhiên là người đặc biệt xuất hiện nhiều nhất trong thơ của Lý Bạch. Bài thơ được viết trong khoảng năm 729 - 730, khi Mạnh Hạo Nhiên quyết định từ giã cuộc sống ẩn dật xuôi dòng về Dương Châu. Để tiễn bạn, Lý Bạch đã truyền tin cho Mạnh phu tử hẹn gặp ở Hoàng Hạc lâu, tại Giang Hạ Vũ Hán, sau vài hôm vui vầy, thì Mạnh Hạo Nhiên theo thuyền về phía Đông. Đứng bên bờ sông nhìn bóng bạn khuất dần, lòng thi nhân có nhiều cảm xúc khó tả, Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng đã ra đời từ đó."Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâuYên hoa tam nguyệt há Dương ChâuCô phàm viễn ảnh bích không tậnDuy kiến Trường Giang thiên tế lưu"Đường thi là thể thơ vần luật nghiêm ngặt, câu chữ hạn chế và vô cùng hàm súc thế nên việc dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt sau cho thoát nghĩa hợp vần dường như là thách thức đối với đa số các dịch giả. Duy chỉ có Tản Đà là người có vốn Hán học sâu rộng nên những bài thơ Đường ông dịch đều sát nghĩa và hay. Xét về bài Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, đọc bản gốc và bản dịch thơ thì dường như các ý chỉ đúng tương đối và dịch giả còn bỏ sót rất nhiều chi tiết quan trọng, làm cho bài thơ kém đi nhiều cái hay đặc sắc. Chính vì thế việc phân tích nên dựa vào bản gốc và phần dịch nghĩa để có thể hiểu một cách chính xác từng tầng ý nghĩa và tác giả muốn truyền tải, còn bản dịch thơ chỉ nên lấy làm tham hết, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu cảnh tiễn đưa bạn hiền của Lý Bạch thông qua hai câu thơ đầu."Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâuYên hoa tam nguyệt há Dương Châu"Sau những ngày gặp gỡ bạn hiền cuối cùng Lý Bạch cũng phải tiễn bạn lên đường, Mạnh Hạo Nhiên lại xuôi dòng Trường Giang tiến về vùng Dương Châu. Với nét đặc trưng hàm súc, ngắn gọn và niêm luật chặt chẽ, nhưng phải truyền tải được nội dung sâu và rộng. Điều ấy đã yêu cầu các tác giả phải làm sao lựa chọn câu từ sao cho thật chuẩn xác, nhưng vẫn có mối liên hệ chặt chẽ. Nhìn vào hai câu thơ đầu, rõ ràng rằng Lý Bạch đã rất xuất sắc khi chỉ dùng 14 chữ mà đã bao quát được một buổi đưa tiễn với đầy đủ không gian, thời gian và cả con người trong ấy. Đặc biệt người đọc, càng đi tìm, càng ngẫm nghĩ lại càng khai mở được cái ý thơ ẩn chứa, tựa nhưng đang khai phá một kho tàng nghệ thuật vậy. Trước hết ta bàn về cái không gian của buổi đưa tiễn, phải khẳng định rằng đó là một không gian vô cùng bao la và rộng lớn. Tại sao lại nói vậy? Bởi cứ xét xem, trước là điểm mà Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên gặp gỡ, đàm đạo mấy ngày trời - Hoàng Hạc lâu . Đây là một trong tứ đại danh tháp của Trung Quốc, gắn liền với truyền thuyết cưỡi hạc vàng ngao du của Phí Văn Vi, nằm ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, nếu xét theo phương hướng thì nó nằm về phía tây của thành Giang Tô Quảng Lăng cũ. Xét về tính chất đây là nơi tiễn bạn của Lý Bạch cũng là nơi xuất phát của Mạnh phu tử, nó mang một vẻ thần tiên, tĩnh lặng và tao nhã. Trái lại, thì Dương Châu, nơi mà Mạnh Hạo Nhiên sẽ đến lại nằm ở phía Đông của tỉnh Giang Tô ngày nay. Đây là nơi phồn hoa đô hội bậc nhất của Trung Quốc lúc bấy giờ, mang vẻ nhộn nhịp sôi động, khác hẳn với Hoàng Hạc lâu. Và nối giữa hai địa điểm ấy, là dòng Trường Giang rộng lớn, là huyết mạch giao thông quan trọng nối liền hai đầu đất nước, dẫn con thuyền của Mạnh Hạo Nhiên từ biệt phía tây hướng về phía Đông, đi từ nơi ẩn cư, thanh tĩnh sang chốn phồn hoa, rực rỡ. Có thể thể nói rằng, với 14 chữ ngắn gọn, cùng 2 địa điểm chính là Hoàng Hạc lâu và Dương Châu, Lý Bạch đã gợi mở ra một không gian đưa tiễn thật bao la, rộng lớn, mà lúc đầu nếu người đọc không tinh ý có lẽ chỉ thấy được một căn lầu với kẻ ở người đi, bó hẹp, sơ là bàn về không gian, lại nói về thời gian trong tác phẩm cũng có nhiều điều đáng bàn, dẫu rằng nó chỉ gói gọn trong 4 chữ "yên hoa tam nguyệt". Trong các bản dịch thơ hiện nay, đa phần các dịch giả vẫn còn vướng mắc hoặc có ý riêng khi diễn đạt không đầy đủ, thậm chí có phần đi xa so với nguyên tác, không diễn đạt được cái ý đồ thơ mà tác giả xây dựng. Ví như cụ Ngô Tất Tố dịch "Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu" thành "Giữa mùa hoa khói Dương Châu xuôi dòng", bỏ qua cụm "tam nguyệt", hoặc Trần Trọng Kim lại dịch thành "Tháng 3 trẩy xuống Dương Châu thuận dòng", bỏ mất cái "yên hoa". Chung quy lại thì đều kém đi rất nhiều cái ý tứ thơ của Lý Bạch, thực tế trong các bài thơ Đường thi, không phải chỉ đơn giản là dịch đúng nghĩa của từ mà ra được ý thơ mà còn phải dùng sự suy vi để biến chuyển cái ý vốn đã được thi nhân cô đọng hết sức của câu thơ. Bây giờ nói về "yên hoa tam nguyệt" dịch sát nghĩa thì tức là "hoa khói tháng ba", tính ra cái ý của Lý Bạch nó thường quá, dĩ nhiên là không phải vậy rồi. Thực tế người Trung Quốc sẽ hiểu cụm "yên hoa tam nguyệt" thành ý "mùa xuân hoa vừa nở rộ". Tại sao lại nói như vậy, thì có thể lý giải rằng, tháng một là lúc hoa bắt đầu khai nụ, tháng hai khai hoa, tháng ba đúng vừa lúc hoa nở rộ nhất, rực rỡ nhất, bởi khi ấy đã là cuối xuân, thời tiết ấm áp hẳn, thế nên mới có "tam nguyệt" là vậy. Còn "yên hoa" , ngoài ý là cảnh tượng hoa nở trắng xóa hai bên bờ Trường Giang, diễm lệ như sương khói, thì có lẽ còn một phần là ở khói trắng của vùng sông nước lượn lờ trên hoa nên mới có cái cảnh "hoa khói" mơ hồ khiến nhiều người khó hiểu vậy. Chung quy lại "yên hoa tam nguyệt" chính là điểm nhấn cho phong cách thơ lãng mạn, bay bổng của thi tiên Lý Bạch. Đồng thời cảnh mùa xuân hoa nở ấy còn gợi ra một khung cảnh ấm áp, tươi đẹp, tiết trời trong sáng, ngụ ý chúc người đi thuận buồm xuôi bối cảnh không gian và thời gian vừa rộng lớn, vừa thơ mộng thì hình ảnh con người chỉ hiện lên trong vòng hai chữ "cố nhân" đầy xúc tích, khéo léo nói lên mối quan hệ giữa kẻ tiễn với người đưa. Người đi là Mạnh Hạo Nhiên là một nhà thơ nổi danh của thời Đường, là người mà Lý Bạch ngưỡng mộ về cả tài năng và nhân cách, còn người ở rõ ràng là Lý Bạch. Hai người có tình bạn vong niên được xếp vào hàng tri kỷ, thấu hiểu lẫn nhau, khi Mạnh phu tử lớn hơn Lý Bạch tới 12 tuổi, thế nhưng nó không thể ngăn cách được sự đồng điệu trong tâm hồn của hai nhà thơ lớn đương thời. Từ "cố" ở đây không chỉ đơn thuần diễn đạt những điều đã cũ, mà là để bộc lộ tình cảm gắn bó, trân trọng với người bạn đã cùng nhau trải qua nhiều những kỷ niệm đáng nhớ, là tình bạn có sự thử thách của thời gian, năm tháng. Như vậy tổng hòa các yếu tố, không gian, thời gian, con người đã được đặt trong một mối quan hệ bao quát hơn, thứ nhất là mối quan hệ trong cái đẹp bao gồm thời tiết thuận lợi, cảnh sắc tuyệt vời, tình bằng hữu tri kỷ. Thứ hai các yếu tố trên còn được đặt trong mối quan hệ giữa có và không, người Trung Quốc vẫn quan niệm niệm tứ thú bao gồm "giai thì, mỹ cảnh, thắng sự, lương bằng", thì có thể thấy trong bối cảnh thơ thì đã thỏa cả ba thứ duy chỉ thiếu một cái gọi là "thắng sự". Bởi chuyện tiễn bạn lên đường đi xa, chuyện biệt ly trước giờ là việc vui vẻ, dẫu rằng người đi có hướng về một nơi tốt đẹp thế nào đi chăng nữa, thì kẻ ở lại sao tránh khỏi buồn thương. Và thi tiên Lý Bạch cũng như vậy, cảnh đẹp, thời tiết đẹp, có bạn tốt, thế nhưng bạn phải đi xa, biết bao nhiêu cái đẹp cũng để lại một dấu trầm trong lòng người thi nhân, có đẹp hơn thế nữa cũng bằng với hai câu thơ đầu thì hai câu thơ cuối lại tập trung bộc lộ cảm xúc của tác giả. Trước hết là thông qua việc tái hiện hiện hình ảnh thi nhân dõi mắt theo con thuyền chở bạn cho đến khi khuất bóng trên Trường Giang ở câu thơ thứ ba."Cô phàm viễn ảnh bích không tận"Ở đây nếu độc giả tinh ý có thể phát hiện ra một sự phi lý của hình ảnh "cô phàm" - cánh buồm lẻ loi cô đơn. Phi lý ở chỗ, Trường Giang vốn là con đường giao thông huyết mạch của Trung Quốc, lại đang là đợt tháng 3, tháng cuối cùng của mùa xuân ấm áp, hẳn phải có vô số thuyền qua lại, thế nhưng trong thơ của Lý Bạch lại chỉ có độc một cánh buồm lẻ loi trên dòng sông. Sở có cảnh lạ lùng ấy là bởi tấm lòng đã định hướng cho đôi mắt, tác giả chỉ một lòng hướng theo con thuyền của bạn mình dần đi xa mà bỏ qua những con thuyền khác, thế nên thấy nó cô độc và lẻ loi. Thứ hai nữa là vốn dĩ trong lòng tác giả lúc này đây cũng đang dấy lên biết bao cảm giác cô đơn, lạc lõng mà theo như Nguyễn Du đã nói "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ". Dẫu ngoài kia có muôn thuyền bè ngược xuôi thì Lý Bạch cũng vẫn cảm giác rằng con thuyền của Mạnh Hạo Nhiên thật cô độc, lẻ loi khi tiến về chốn phồn hoa đô hội rực rỡ. Con thuyền ra đi mà mang theo của nỗi lòng của người ở lại, mênh mang không một hình ảnh khác cần chú ý ấy là "viễn ảnh bích không tận", tức là sự vận động xa dần của cánh buồm rồi mất hút vào khoảng không bao la, trong màu xanh bát ngát của trời nước. Như vậy có thể thấy rằng hình ảnh này đã khéo léo gợi ra ánh mắt chăm chú dõi theo chiếc thuyền đi xa của người ở lại, giống như Nguyễn Bính đã từng có một câu thơ tương tự "Anh đi đấy, anh về đâu/Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm", thoạt tiên còn thấy màu sắc, sau cùng chỉ còn thấy mờ mờ một cánh buồm nhỏ. Cũng ở câu thơ thứ ba này tác giả nhấn mạnh màu xanh biếc của trời nước "bích không tận" , đó là một gam màu lạnh trong hội họa. Và bản thân gam màu lạnh ấy đã gợi ra sự lạnh lẽo, trống trải, cô đơn trong cõi lòng của người ở lại. Như vậy ở đây không còn đơn thuần là cảnh đưa tiễn mà còn là tình cảm chất chứa của người đưa tiễn ẩn đầy trong từng ý thơ một, rất sâu câu thơ cuối cùng "Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu" ta lại thấy một cái hay khác trong thơ Lý Bạch, ở đây tác giả đã thiết kế một cấu trúc đa tầng để tạo nên chiều sâu cho ý thơ, từ cái có gợi ra cái không, rồi từ cái không lại gợi ra cái có, rất thú vị. Cái có là cái hiện hữu trước mắt, là cái mà thị giác có thể cảm nhận được, đó là dòng sông vô thủy, vô chung, mênh mông đến tận cõi trời vô hạn, khôn cùng. Từ cái hữu hình vô tận ấy thì ta nhìn ra được cái không chính là sự biến mất của con thuyền, là sự biến mất của người bạn trong khung cảnh trời nước. Rồi chính từ cái sự biến mất ấy, tác giả lại gợi ra cái ánh mắt đau đáu dõi theo bóng bạn cho đến khi khuất bóng không còn thấy gì nữa, ta nhận thấy được sự hụt hẫng, trống trải, cô đơn trong lòng thi nhân, thấy được nỗi nhớ thương của người ở lại, là tình cảm sâu nặng của người ở lại dành cho người ra đi. Như vậy có thể thấy rằng ở hai câu thơ cuối, nhìn chung thì có vẻ là tả cảnh, nhưng thực tế sức nặng của câu thơ lại nằm ở việc tác giả từ cảnh mà suy ra tình .Chính cái sự bóc tách từng nỗi niềm qua mỗi ý thơ đã chứng minh được sự hàm súc và tài năng tuyệt thế của Lý Bạch trong thể loại Đường Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng đã thể hiện sâu sắc tình bạn chân thành, gắn bó của hai nhà thơ lớn thời thịnh Đường, từ đó Lý Bạch mang đến cho muôn đời sau bài học về sự trân trọng tình bạn, tình bằng hữu quý giá. Về nghệ thuật, tác giả đã rất thành công trong việc sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình, ngôn ngữ sử dụng giản dị nhưng hàm súc cô đọng, "ý tại ngôn ngoại", ít chữ nhưng ẩn chứa nhiều huyền cơ. Đặc biệt tiêu biểu cho phong cách thơ lãng mạn của thi tiên Lý Bạch ấy là hình ảnh thơ tươi sáng, trong trẻo, giàu sức Bên cạnh bài Phân tích Tại lầu Hoàng Hạc tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, các em học sinh có thể tham khảo thêm một số bài văn hay lớp 10 khác như Cảm nhận về tình bạn giữa Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên trong bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Cảm nhận thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Khái quát đặc sắc về nội dung và nghệ thuật bài Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng, Sơ đồ tư duy bài Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng. Thầy giáo làngDiễn đàn của thầy giáo Đoàn Ngọc Khánh Các bài gửi mới nhất Reload Thủ ảnh tràn lề Đang tải dữ LiệuOldTìm hiểu đoạn trích tác phẩm "Ông già và biển cả" của nhà văn Hê-minh-uê Đang tải dữ LiệuOldTìm hiểu tác phẩm "Số phận con người" của Sô lô khốp Đang tải dữ LiệuOldĐất nước - Nguyễn Khoa Điềm bản đầy đủ Đang tải dữ LiệuOldPhân tích thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu Đang tải dữ LiệuOldBài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Đang tải dữ LiệuOldGiới thiệu "Thuốc" của Lỗ Tấn Đang tải dữ LiệuOldBài văn lạ của học trò nghèo gây “sốc” với giáo viên trường Ams Đang tải dữ LiệucogiaolangVẻ đẹp của hình tượng nhân vật HUẤN CAO Đang tải dữ LiệuhoanganhTình nghĩa trong ca dao Đang tải dữ Liệuhoanganh Thầy giáo làng Bài học Lớp 10 Hòang hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng-Lý BạchShare Tác giảThông điệpthầy giáo làngTổng số bài gửi 129Join date 21/11/2011Tiêu đề Phân tích "Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo nhiên chi Quảng Lăng" Sat Nov 26, 2011 416 pm Lý Bạch 701-762 là một trong ba nhà thơ cự phách đời Đường, được người đời ca ngợi là “Thi tiên” và đã để lại hơn một nghìn bài thơ tuyệt tác. Là một kiếm khách – thi sĩ, ông coi thường danh lợi, thích ngao du sơn thuỷ, cầu tiên phỏng đạo. Trăng, rượu, hoa, cảnh núi sông tráng lệ, tình bằng hữu, tình quê hương lòng khao khát tự do… chứa chan trong những vần thơ lãng mạn tràn đầy hùng tâm tráng chí. Ông có làm quan khoảng 3 năm ở kinh đô Tràng An nhưng đã vứt bỏ áo mũ, với thanh gươm túi thơ lại lên đường… “Vọng Lư Sơn bộc bố”, “Hành lộ nan”, “Tĩnh dạ tư”,"Hoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo nhiên chi Quảng lăng",”Tảo phát Bạch Đế thành”… là những bài thơ nổi tiếng của “Thi tiên” cho thấy một hồn thơ tuyệt thơ Hoàng hạc lâu tống mạnh Hạo nhiên chi Quảng lăng ghi lại một kỷ niệm sâu sắc tại lầu Hoàng Hạc, Lí Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi về Quảng Lăng, qua đó nói lên tình lưu luyến, thương nhớ Lý Bạch đưa tiễn bạn lên đường đi xa về phía tây là lầu Hoàng Hạc, một thắng cảnh thuộc Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc. Lầu Hoàng Hạc gắn liền với huyền thoại Phí Văn Vi đắc đạo thành tiên, đã từ đây cưỡi hạc ra đi. Bạn là Mạnh Hạo Nhiên 689-740 một nhà thơ nổi tiếng, bạn vong niên của Lý Bạch một kẻ sĩ hào hiệp hào hoa, phóng khoáng, ưa ngao du, rất tâm đầu ý hợp với Lý Bạch Hai chữ “Cố nhân” bạn cũ, người xưa trong câu đầu nói lên mối quan hệ sâu sắc, lâu bền về tình bạn đẹp giữa hai nhà thơ. Đó là bạn tao nhân mặc khách“Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu”Bạn từ lầu Hoàng Hạc lên đườngCâu thơ dịch rất hay và thanh thoát, nhưng chữ “tây” chưa dịch được để nói lên hướng đi của bạn. Chữ “bạn” chưa lột tả hết ý và cảm xúc của từ “cố nhân”. Trong thơ cổ, mỗi lần từ “cố nhân” xuất hiện, gợi tả bao tình nghĩa làm rung động hồn người“Dạng chu tầm thuỷ tiệnNhân phỏng cố nhân cư”Mạnh Hạo NhiênThuật dòng đủng đỉnh thuyền bơiCố nhân gần đó, qua chơi thăm nhà“Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân”câu 2330- “Truyện Kiều”Câu hai phát triển và hoàn thiện câu thơ thứ nhất, nói rõ thời gian bạn lên đường và nơi bạn sẽ đến. Mạnh Hạo Nhiên lên đường vào một ngày tháng ba tam nguyệt mùa hoa khói yên hoa, xuôi về nơi phồn hoa đô hội, Dương Châu – một trong những đô thị đẹp nổi tiếng thời Đường“Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng Chữ “há” có bản phiên âm là “hạ”, được Ngô Tất Tố dịch thành “xuôi dòng”, thật là sáng tạo. “Yên hoa” là một thi liệu, một ẩn dụ giàu chất thơ mà ta gặp nhiều trong Đường thi. Câu thơ không chỉ xác định thời gian và không gian đi, đến mà còn diễn tả nỗi niềm của kẻ ở người đi. Lầu Hoàng Hạc và Dương Châu cách xa hàng nghìn dặm như hiện lên qua vần thơ. Đằng sau hai địa danh mà nhà thơ nói đến là cả một nỗi niềm, một không gian trống vắng vô bờ, một trời thương nhớ biệt ly của đôi bạn tri âm. Có một bản dịch khác đọc lên nghe rất thú vị“Bạn từ lầu Hạc ra điDương Châu Hoa khói giữa kỳ tháng ba”Nhữ ThànhCó thể nói trong hai câu “Khai thừa”, yếu tố tự sự chỉ là bề nổi của câu chữ nỗi niềm của một tâm sự thầm kín mới là tầng sâu hàm ẩn. Nơi “thi hội tao nhân” cũng là nơi ly biệt, đó là Hoàng Hạc Lâu. Lý Bạch đứng trên lầu cao hay trên một cao điểm nào đó trên bến sông, dõi theo chiếc thuyền đưa Mạnh Hạo Nhiên đến chân trời xa? Cấu trúc không gian hai điểm mút “cận – viễn” là một thủ pháp trong hội hoạ, ta thường bắt gặp trong Đường thi, trong các bức hoạ cổ Trung Hoa. Lý Bạch đã vận dụng thành công thủ pháp ấy tạo nên điểm nối giữa câu 1, 2 với câu 3, 4 thành một chỉnh thể nghệ thuật hoàn câu cuối là linh hồn của bài thơ, giãi bày những tình cảm sâu sắc, đẹp đẽ, cảm động của Lý Bạch đối với Mạnh Hạo Nhiên. ẩn hiện sau ba hình ảnh được miêu tả trực tiếp dòng sông, cánh buồm, bầu trời là hình ảnh của Lý Bạch đứng mãi nhìn hoài con thuyền đưa bạn cũ đi xa…Cánh buồm đơn côi, lẻ loi cô phàm xa dần, mờ dần viễn ảnh rồi mất hút vào trời xanh, vào cuối chân trời xa bích không tận. Hay tầm lòng “Thi tiên” với bao ái ngại, lưu luyến, nhớ thương… như những con sóng gối lên nhau, đưa tiễn con thuyền của bạn, mất hút dần, mờ dần trên dòng sông Trường Giang? “Con sông sẽ trở nên rộng bao la khi cái hữu hạn của nó đồng nhất với cái vô hạn của bầu trời. Chiếc thuyền buồm lẻ loi chở Mạnh Hạo Nhiên đã tan biến trong dòng sông bao la đó mang đi tình bạn của Lý Bạch. Dòng sông càng rộng, chiếc thuyền buồm càng nhỏ mất hút vào khoảng không gian vô tận. Rõ ràng, sau khi tiễn bạn lên đường, Lí Bạch dừng lại khá lâu dõi mắt nhìn theo chiếc thuyền buồm lẻ loi đến tận chân trời xa tít. Lí Bạch mượn cái khung cảnh thiên nhiên sau buổi tiễn đưa để nói lên tình cảm nhớ bạn da diết….Lí Bạch tả về cái buồn của sự li biệt, nhưng vẫn giữ được phong cách phóng khoáng khi ông miêu tả cái hùng vĩ của thiên nhiên”. Trần Xuân Đề“Cô phàm viễn ảnh bích không tậnDuy kiến Trường Giang thiên tế lưu”Bóng buồm đã khuất bầu khôngTrông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.Cái tiêu điểm đầy ám ảnh của bài thơ là “cô phàm viễn ảnh”. Cái tâm cảnh của Lí Bạch được diễn tả bằng hai chữ “duy kiến” – chỉ nhìn thấy. Ta đã biết Lí Bạch sống trong thời Thịnh Đường. Lúc bấy giờ kinh tế phát triển mạnh, thương nghiệp mở mang, nhiều đô thị sầm uất mọc lên Tràng An, Dương Châu, Thành Đô v..v… Trên con sông Trường Giang suốt đêm ngày thuyền bè ngược xuôi như mắc cửi. Thế mà trong muôn ngàn cánh buồm ở trên sông, Lý Bạch ”duy kiến” chiếc “cô phàm” của bạn, nhìn mãi cho đến lúc nó mất hút trong “bầu trời xanh biết”. Chỉ sống với một tình bạn tri âm, thắm thiết thì mới có cái nhìn “duy kiến” dầu chưa dịch được hai chữ “cô” cô phàm, “bích” bích không tận nhưng Ngô Tất Tố đã lột tả được “điệu Đường”, “hồn Đường” của nguyên tác, đọc lên rất thấm thía về nỗi buồn thương, lưu luyến bạn của nhà thơ Lý BạchHoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo nhiên chi Quảng lăng là một trong những tuyệt tác về thơ thất ngôn tứ tuỵêt của Lý Bạch Vừa cụ thể vừa phổ quát cho muôn đời về nỗi buồn tống biệt và ức hữu. Cấu trúc không gian xa – gần cận – viễn, lấy ngoại cảnh để biểu hiện nội tâm, ngôn ngữ, trang nhã, gợi cảm, hàm súc… đó là những yếu tố nghệ thuật tạo nên vẻ đẹp văn chương và cốt cách của bài thơ này. Bài thơ đã phản ánh một tâm hồn đẹp, một tình bạn đẹp của Lý Bạch, cũng là của những tao nhân mặc khách đời Đường. thầy giáo làngTổng số bài gửi 129Join date 21/11/2011Tiêu đề Re Phân tích "Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo nhiên chi Quảng Lăng" Tue Nov 29, 2011 1127 pm Lí Bạch tự là Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, nguyên quán ở Thành Kỉ, Lũng Tây, sinh trưởng ở Thanh Liên, huyện Chương Minh thuộc Miên Châu. Quê hương Lí Bạch vốn là nơi có phong cảnh hùng vĩ, sơn thuỷ hữu tình nổi tiếng ở Trung Quốc. Nơi đây tụ họp nhiều anh hùng hảo hán, cũng là nơi sản sinh ra những truyện truyền kì hấp dẫn. Những nhân tố này đã ảnh hưởng nhiều đến hồn thơ phóng khoáng và ý chí kiên cường của nhà thơ, là một trong những nguyên nhân đưa Lí Bạch trở thành nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của văn học Trung đời Lí Bạch là cuộc đời của một con người đã "đọc nát vạn quyển sách, đi hết vạn dặm đường". Lí Bạch sáng tác rất nhiều, có tới trên 1000 bài thơ và nhiều bài nổi tiếng. Thơ Lí Bạch là sự kết hợp của một tâm hồn thơ bay bổng và một tấm lòng luôn tha thiết tình đời. Mỗi bài thơ của ông là một tâm sự của một người luôn tha thiết được thực hiện chí quân tử, đồng thời cũng là niềm say mê cảnh đẹp của giang sơn gấm vóc. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng là một bài thơ thành công và thể hiện khá tập trung những nét tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Lí Bạch. Bài thơ khai thác đề tài tình bạn, đề tài chia li giữa những người tri âm tri kỉ  một đề tài rất quen thuộc trong thơ ca cổ kim. Với một đề tài quen thuộc nhưng tài năng của Lí Bạch đã tạo nên một biểu tượng đẹp về tình bằng hữu. Mạnh Hạo Nhiên là bạn tri âm của Lí Bạch, trong bài thơ tặng Mạnh Hạo Nhiên, Lí Bạch viết Ta yêu Mạnh Hạo NhiênPhong lưu thiên hạ biếtMạnh Hạo Nhiên 689 740 là một nhà thơ có tiếng đời Đường. Dù chênh nhau 12 tuổi nhưng giữa hai nhà thơ có nhiều điểm tương đồng, đều gặp nhiều trắc trở trong cuộc đời, tính tình hào hiệp, coi thường công danh, thích ngao du sơn thuỷ. Mạnh Hạo Nhiên theo lời triệu của triều đình, đi Dương Châu làm quan, chấm dứt những ngày bạn bè bên nhau, chén tạc chén thù. Bài thơ không có hình ảnh cuộc chia tay, chỉ có tâm sự của người đưa tiễn. Lầu Hoàng Hạc là một địa danh, di tích văn hoá nổi tiếng của Trung Quốc, lại là địa điểm của một cuộc chia li đầy tâm sự. Vì vậy, bài thơ như một bức tranh sơn thuỷ đẹp và gợi cảm. Ngôn ngữ thơ Đường vốn không phong phú nhưng lại rất hàm súc. Các nhà thơ cổ điển rất chú ý đến việc lựa chọn, gọt giũa và trau chuốt ngôn từ. Hình ảnh thơ cũng thường mang tính khái quát cao với những ẩn dụ tượng trưng có giá trị hàm súc. Nghệ thuật tinh xảo của ngôn ngữ và niêm luật tạo nên khả năng "ngôn hữu hạn ý vô cùng" cho bài thơ Đường. Niêm luật chặt chẽ và những quy tắc đối xứng tạo cho bài thơ vẻ đẹp cổ điển. Đặc biệt tính chất "thi trung hữu hoạ" và "thi trung hữu nhạc" được thể hiện rất triệt để trong thơ thể thấy bài thơ được sáng tác vào giai đoạn Lí Bạch đã gặp một số trắc trở trên con đường thực hiện lí tưởng giúp nước của mình. Lí Bạch từng được giới thiệu vào triều đình của Đường Minh Hoàng nhưng ông đã rất thất vọng và tìm quên trong vò rượu. Tính tình phóng khoáng của Lí Bạch không hợp với cuộc sống chen chúc và đầy phức tạp chốn quan trường. Mạnh Hạo Nhiên là nhà thơ Đường thuộc trường phái thơ "sơn thuỷ điền viên", là một người phóng khoáng, hợp với cuộc sống thanh nhàn nơi làng quê nhưng ông lại đến Dương Châu làm quan. Và vì thế Lí Bạch tiễn đưa bạn trong một tâm trạng đầy trắc ẩn, vừa cô đơn vừa lo lắng. Bài thơ tứ tuyệt cổ điển hai mươi tám chữ nhưng cô đọng cả một niềm day dứt lớn. Bài thơ có lối mở đầu quen thuộc của Đường thi, câu đề từ giới thiệu tình huống Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâuBạn từ lầu Hạc lên đườngCâu thơ dịch đã làm mất khả năng hàm súc của ngôn từ. Những từ "cố nhân", "tây từ" truyền tải nghĩa rộng hơn nhiều so với từ "bạn" và ý nghĩa chỉ địa điểm cuộc chia tay. Hơn nữa, việc sử dụng nhiều thanh bằng và gieo vần bằng của nguyên tác đã gợi một dư âm cho câu thơ thể hiện trạng thái bịn rịn của cuộc li biệt. Cố nhân xuôi Dương Châu là đi về hướng đông. "Tây từ" là hướng về phía tây về phía lầu Hoàng Hạc khi đã lên thuyền xuôi hướng Dương Châu, gợi hình ảnh người ra đi đang hướng về lầu Hoàng Hạc. Đây thực ra là hình ảnh người ra đi trong cảm nhận của người ở lại. Hình tượng, thời gian và không gian nghệ thuật của bài thơ đều được tái hiện qua cảm nhận của người ở lại. Câu thơ thứ nhất là hoàn cảnh, địa điểm của cuộc chia tay, đều rất cụ thể. Câu thơ thứ hai lại mở ra không gian cuộc chia tay  một không gian đầy chất thơ. Vừa là không gian thực của cuộc chia tay, vừa là không gian nghệ thuật Yên hoa tam nguyệt há Dương ChâuGiữa mùa hoa khói, Châu Dương xuôi dòngBốn chữ "yên hoa tam nguyệt" được dùng để chỉ thời gian, với ý nghĩa là tháng ba, vào mùa xuân. Đây là một buổi sáng mùa xuân, khi hơi nước quyện với sương mù tháng ba đã tạo nên hình ảnh "hoa khói". Đây là thời gian và không gian cuộc chia tay song cũng là những biểu tượng nghệ thuật có sức gợi rất lớn. "Yên hoa" là "hoa và khói", thường chỉ khói sóng trên sông, khói sương mù. Vào mùa xuân ở Trung Quốc, đây là hình ảnh thiên nhiên không mấy xa lạ và nó đã đi vào thơ như một hình tượng nghệ thuật đầy gợi cảm, làm thức dậy bao nỗi niềm tâm sự của thi nhân như nhà thơ Thôi Hiệu đã thổ lộ "Yên ba giang thượng sử nhân sầu". "Yên hoa" còn có nghĩa là cảnh đẹp mùa xuân. Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên là hai người bạn tri âm, tính tình đều rất phóng khoáng, thích ngao du sơn thuỷ. Với hai tâm hồn nghệ sĩ ấy thì lầu Hoàng Hạc giữa mùa xuân là khung cảnh gợi bao thi hứng, đó là nơi lí tưởng để họ đàm đạo thi ca và nhân tình thế thái. Đó cũng là những giây phút mà cả hai đều thú vị. Thế nhưng họ lại phải chia tay nhau. Và đương nhiên mỗi người mang trong mình một nỗi niềm tâm sự. Câu thơ thứ hai đã hé mở tâm sự của người đưa tiễn. Tâm sự ấy được bộc lộ rõ hơn ở hai câu thơ cuối Cô phàm viễn ảnh bích không tận,Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.Bóng buồm đã khuất bầu không,Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời.Đề tài là một cuộc chia li nhưng thực ra bài thơ lại là tâm trạng của người đưa tiễn, tức là chủ thể trữ tình của bài thơ. Vì vậy thời gian và không gian nghệ thuật của bài thơ vừa hư vừa thực, nó thiên về thời gian và không gian tâm tưởng. Được viết theo mạch cảm xúc nên bài thơ có kết cấu hướng tâm. Tâm điểm là hình ảnh người ra đi. Cuộc đưa tiễn tinh thần này được diễn ra trong một không gian mở và một thời gian vô gian mở ra trước tầm mắt của nhân vật trữ tình, từ lầu Hoàng Hạc hướng về Dương Châu, nơi người ra đi đang hướng đến. Nhưng chỉ lướt qua hình tượng "yên hoa" để dừng lại và tạo điểm nhấn ở hình ảnh "cô phàm". Đây là một bài thơ giàu chất hội hoạ. Bài thơ như một bức tranh xinh xắn, có chiều sâu hun hút và điểm nhấn của bức tranh hay hình ảnh sắc nét nổi trội nhất của bức tranh là hình ảnh một cánh buồm lẻ loi giữa màu xanh bất tận của nước Trường Giang và của chân trời. Cánh buồm nhỏ ấy đã ở rất xa, chỉ còn là viễn ảnh, nó thật nhỏ nhoi và cô độc giữa cái bát ngát vô tận của màu xanh nối tiếp đến tận chân trời. Câu thơ thứ ba trong bài thơ tứ tuyệt có vai trò rất quan trọng. Ở câu thơ này, tác giả đã tạo nên một cặp hình ảnh đối lập, một thủ pháp nghệ thuật rất quen thuộc của thơ ca cổ điển. Đó là sự đối lập giữa "cô phàm" và "bích không tận". Cái nhỏ nhoi đơn độc của cánh buồm giữa sự mênh mông của sông nước đã gợi tả hình ảnh của người ra đi. Giữa cảnh sắc nước trời mùa xuân thơ mộng, người ra đi lại hướng đến một nơi xa xôi đầy những điều bất trắc. Cô độc là tâm trạng tất yếu của mọi cuộc chia li. Nhất là cuộc chia tay giữa những người bạn tri âm. Vậy cánh buồm cô đơn ấy là tâm trạng cô đơn của chủ thể trữ tình  người đưa tiễn. Thả hồn theo bóng người ra đi, người ở lại dõi tầm mắt theo người ra đi đến khi hình ảnh người ra đi chỉ còn là cánh buồm nhỏ rồi dần mất hút, và trước mắt chỉ còn duy nhất hình ảnh dòng Trường Giang cuộn chảy Duy kiến Trường Giang thiên tế lưuTrông theo chỉ thấy dòng sông bên trờiDòng Trường Giang vốn hùng vĩ, dưới cái nhìn của người ở lại càng dữ dội hơn. Nó trở thành "thiên tế lưu". Bản dịch đã không lột tả được thần thái của hai câu thơ cuối. Cái chất "thiên tế lưu" của dòng Trường Giang thể hiện được cả sóng trong lòng người đưa tiễn, đó là một cơn sóng dữ dội. Chứng tỏ cuộc chia tay đã tác động rất mạnh đến tâm lí người ở lại. Đây là những hình ảnh thơ rất hay xuất hiện trong thơ Lí Bạch. Là nhà thơ lãng mạn, thích phóng túng, ưa thích tự do nên bên cạnh những vần thơ phá luật, nhà thơ còn thích dùng những hình ảnh có tính chất dữ dội và giàu khả năng gợi cảm. Khi miêu tả thác Lư Sơn tác giả đã dùng hình ảnh "Phi lưu trực há tam thiên xích", còn dòng Trường Giang thì như từ trên trời đổ xuống. Cái dữ dội của dòng Trường giang dưới con mắt của người đưa tiễn có thể liên tưởng rộng hơn nữa. Phải chăng Dương Châu phồn hoa đô hội còn có cái gì đó thật dữ dằn đối với người sắp đến. Cánh buồm của Mạnh Hạo Nhiên đơn độc và vô cùng nhỏ bé trước cái vô cùng của sông nước Trường Giang và thật yếu ớt mong manh trước cái dữ dội của dòng sông ấy. Bản chất trong sáng, thẳng ngay và tấm lòng thanh bạch của những người nghệ sĩ có tâm như Lí Bạch, Mạnh Hạo Nhiên thật không dễ tồn tại yên ổn trong thế giới quan trường đầy cạm bẫy và mưu mô danh lợi. Đó có phải là nỗi lo lắng của người ở lại dành cho người ra đi khi biết rằng bạn mình đến một nơi chẳng mấy bình yên ? Sinh thời Lí Bạch là người thích ngao du sơn thuỷ song cũng luôn da diết một khát vọng giúp nước. Là người quân tử, cả Lí Bạch và Mạnh Hạo Nhiên đều đã muốn mang tài năng của mình ra giúp nước. Nhưng sau nhiều phen thất vọng vì không thực hiện được hoài bão chính trị, những khát khao ấy đã trở thành nỗi đau đời trong ông. Có thể bài thơ được sáng tác khi Lí Bạch đã vấp phải những thất bại trên đường đi tìm minh quân để phát huy tài năng, giúp ích thiên hạ. Vì vậy khi Mạnh Hạo Nhiên quyết định đến Quảng Lăng để làm quan, nỗi háo hức được phò vua giúp nước trong Lí Bạch đã phần nào bớt sôi nổi. Và thay vào đó là tâm trạng hồ nghi. Và, chính vì lẽ đó mà bên cạnh nỗi cô đơn của cả người đi và người ở lại còn là một nỗi băn khoăn day dứt. Về nội dung, bài thơ có khả năng gợi rất nhiều liên tưởng. Nhưng bao trùm lên tất cả là tâm trạng rất bộn bề của người đưa tiễn. Sức khái quát và khả năng gợi tả của bài thơ được làm nên bởi những hình thức nghệ thuật độc đáo. Bài thơ nhỏ nhắn xinh xắn như một bức tranh sơn thuỷ mà màu sắc và đường nét đều rất sắc sảo. Với hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh và đậm chất hội hoạ, bài thơ đã chứng tỏ tài năng nghệ thuật của thi tiên Lí Bạch. Và cuộc chia tay tinh thần đầy lưu luyến diễn ra trong tâm tưởng người ở lại đã chứng tỏ tình bạn thắm thiết giữa hai thi nhân tài năng đời Đường Phân tích "Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo nhiên chi Quảng Lăng" Trang 1 trong tổng số 1 trangBài viết mới cùng chuyên mụcBài viết liên quanPermissions in this forumBạn không có quyền trả lời bài viếtThầy giáo làng Bài học Lớp 10 Hòang hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng-Lý Bạch Tiết 44 TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Lý Bạch A- Mục tiêu bài soạn. -Thấy được tình cảm chân thành trong sáng của nhà thơ với bạn bè. + Hiểu được những đặc đđiểm cơ bản của thơ Đường gợi mà không tả, ý ở ngoài lời … - rèn luyện kỹ năng đọc cảm thụ thơ. -Giáo dục cho các em tình cảm bạn bè chân thành trong sáng. B- Phương pháp tiến hành. - Kết hợp các phương pháp như đọc sáng tạo ,gợi tìm ,thảo luận và hướng dẫn tự nghiên cứu. C- Tiến trình lên lớp. a-ổn đònh lớp1’ b- bài cũ 5’ - Đọc thuộc lòng bài thơ qui hứng em rút ra cho mình bài học gì từ bài thơ đó. c – bài động của giáo của học sinh Những nội dung cơ bản cần đạtHoạt động 1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu chung về văn Giáo viên cho các em đọc phần tiểu dẫn và tìm hiểu . + Ở nhà thơ Lí Bạch cần chú ý những điểm gì?+ Giáo viên nói thêm về một vài nét nghệ thuật thơ Đường để các em lưu ý khi phân tích bài Tiếp tục cho các em đọc bài thơ .chú thích các từ khó và hướng dẫn tìm hiểu.+ Giữa bản dòch và nguyên bản có chỗ nào chưa phù hợp cần lưu ý?-Hướng dẫn tìm hiểu văn thơ nói về chủ đề li biệt ,các câu thơ đều gợi sự biệt li hãy chỉ ra các yếu tố gợi sự biệt li trong các câu thơ.+ Câu thơ đầu nói về - Đọc bài thơ và nắm các ý trong phần tiểu dẫn theo hướng dẫn của giáo Yêu cầu học sinh thấy được hai từ chính sau+ “Cố nhân” dòch là bạn chưa nói hết được tình cảm gắn bó thân thiết đến tri âm tri kỷ của từ cố nhân.+ Cô phàm dòch là bóng buồm mất đi cái cô đơn lẻ loi của người ra sinh có thể trao đổi thảo luâïn theo nhóm với các câu hỏi khó .I – Tìm hiểu chung. 1- Tác giả . -Lí Bạch 701-762là một trong ba đỉnh cao của thơ Đường .Thơ Lí Bạch lãng mạn, hào phóng, bay bổng .Người ta thường gọi ông là tiên Lí Bạch để lại hơn nghìn bài thơ nội dung hết sức phong phú tập trung vào các đề tài chính như + Ước mơ vươn tới lí tưởng cao cả + Khát vọng giải phóng cá nhân . + Thể hiện tình cảm phong phú mạnh liệt. +Bất bình với hiện thực tầm cánh thơ Lí Bạch lãng mạn bay bổng nhưng tự nhiên tinh tế .II- Tìm hiểu văn bản. Câu1. Cố nhân tây từ Hoàng Hạc thiệu người đi, không gian của cuộc chia tay.+ Người đi là “cố nhân” cố nhân là bạn cũ nhưng là bạn than thiết gắn bó tri âm tri kỉ. Hai từ cố nhân đó gợi được bao lưu luyến của nhà thơ với bạn.+ Đòa điểm chia tay là lầu Hoàng Hạc một danh thắng nổi tiếng của trung quốc ,nơi gặp gỡ của các tao nhân, mặc khách . Nơi từng chứng kiến bao cuộc gặp gỡ vui vẻ cũng như bao nồi buồn li biệt của thi nhân. Không gian đó càng làm cho nỗi buồn chia li thêm man mác. Câu2Yên hoa tam nguyệt há Dương yếu tố nào của cuộc chia tay,những yếu tố đó gợi không khí gì của cuộc chia li?+ Nếu thay từ cố nhân bằng từ bạn theo em ý nghóa của câu thơ có thay đôûi không?- Nội dung câu thơ thứ hai nói về điều gì? Các yếu tố được nói đến góp phầøn diễn tả được gì về cuộc chia tay?-Câu thơ thứ ba nói về yếu tố nào trong cuộc chia li?+Thử tưởng tượng và nói lên cảm nhận của mình về những hình ảnh được gợi lên trong câu thơ?+Câu thơ trên có giúp người đọc hình dung gì về người đưa tiễn?-Trong thơ Đường câu kết thường là nói về tình cảm của nhà thơ vậy vì sao câu thơ cuối lại nói về cảnh .Theo em nội dung thực của câu thơ này là gì?+Tại sao nhà thơ lại thấy con sông trống không như vậy?- Theo em điểm đặc biệt nhất về mặt nghệ thuật của bài thơ là gì?- Học sinh cảm nhận được vẻ đẹp đầy chất hội hoạ của câu thơ cũng như sức gợi cảm đặc biệt của nó .các em hình dung được bức tranh và thấy được tâm trạng của nhà thơ với người ra đi- Thấy được đây tuy là câu thơ có nội dung tả cảnh nhưng thực chất lại là nói tình vì là câu kết-Là nói về thời gian và nơi đến của bạn trong cuộc chia ly.+Thời gian là tháng ba vào độ cuối xuân sau những ngày vui vẻ,không gian tràn ngập hoa khói bảng lảng ,mơ màng+ Nơi bạn đến là Châu Giang ,một vùng đất nổi tiếng đô hội nhưng xa xôi của tỉnh Giang Tô. Cái đẹp mờ ảo của cảnh vật, cái xa xôi của không gian chia cách càng làm cho không khí chia li thêm Cô phàm viễn ảnh bích không nói về hình ảnh người ra đi. Hình ảnh bạn được thể hiện gián tiếp qua hình ảnh cánh buồm cô đơn đang chìm dần vào trong cái màu xanh không cùng của trời nước . Thủ pháp đối lập giữa cái nhỏ bé với cái bao la đã làm nổi bật sự cô đơn lẻ loi của người ra đi làm tăng thêm cảm giác một đi không trở lại bởi con người nhỏ bé quá giữa thiên nhiên bao la. Câu thơ cũng nói được cả về hình ảnh của người ở lại. Người ở lại đang dõi theo bóng người ra đi cho đến khi chìm khuất đầy lưu 4 Duy kiến Trường giang thiên tế lưuLà nỗi lòng của nhà thơ sau khi bạn đi .Hình ảnh con sông trống không đang mải miết chảy diễn tả sự trống không của lòng người khi bạn ra đi. Thiên nhiên rộng lớn và vónh hằng con người thì nhỏ bé và ngắn ngủi chia tay nhau càng làm thấy lẻ loi nhỏ bé hơn. Một cảm giác cô đơn trống vắng xâm chiếm lòng người cái dư ba của câu thơ chính là chỗ đó. III- Củng cố dặn dò. - Qua bài thơ em cảm nhận được gì về tình bạn của nhà thơ cũng như cách thể hiện của thơ Đường/ - Học thuộc lòng và tìm đọc thêm các bài viết liên quan. - Chuẩn bò bài thực hành tu từ ẩn dụ và hoán dụ. Sách giáo khoa ngữ văn lớp 10 tập 1 Xem thêm các sách tham khảo liên quan Soạn Văn – Sách Giải Văn – Sách Học Tốt Ngữ Văn Lớp 10 Soạn Văn – Sách Giải Văn – Sách Học Tốt Ngữ Văn Lớp 10 Ngắn Gọn Soạn Văn – Sách Giải Văn – Sách Học Tốt Ngữ Văn Lớp 10 Cực Ngắn Tập Làm Văn Mẫu Lớp 10 Sách Giáo Viên Ngữ Văn Lớp 10 Tập 1 Sách Giáo Viên Ngữ Văn Lớp 10 Tập 2 Sách Giáo Viên Ngữ Văn Lớp 10 Nâng Cao Tập 1 Sách Giáo Viên Ngữ Văn Lớp 10 Nâng Cao Tập 2 Sách Bài Tập Ngữ Văn Lớp 10 Tập 1 Sách Bài Tập Ngữ Văn Lớp 10 Tập 2 Sách Bài Tập Ngữ Văn Lớp 10 Tập 1 Nâng Cao Sách Bài Tập Ngữ Văn Lớp 10 Tập 2 Nâng Cao Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng – Hiếu được tình bạn chân thành, trong sáng của. Nắm được đặc trưng phong cách thơ tuyệt cú tứ tuyệt của Lí Bạch ngôn ngữ giản dị, hình ảnh tươi sáng và gợi cảm. Lí Bạch 701 – 762, tự là Thái Bạch, quê ở Lũng Tây nay thuộc tỉnh Cam Túc. Ông là nhà thơ lãng mạn vĩ đại của Trung Quốc. Vì tính cách khoáng đạt, thơ lại hay nói đến cõi tiên nên Lí Bạch được gọi là “Thi tiên”. Thơ ông hiện còn trên 1000 dung thơ Lí Bạch rất phong phú, với những chủ đề chính là ước mơ vươn tới lí tưởng cao cả, khát vọng giải phóng cá tính, bất bình với hiện thực tầm thường, thể hiện tình cảm phong phú và mãnh liệt. Phong cách thơ Lí Bạch rất hào phóng, bay bổng lại rất tự nhiên, tỉnh tế và giản dị. Đặc trưng q q q A SA Aq Sq A AAA A AAA A ASq qS AA qcả và cái Bạc Tranh chân dung1 Hoàng Hạc lâu lầu Hoàng Hạc một thắng cảnh nổi tiếng của Trung Quốc nằm trên mỏm Hoàng Hạc Cơ, núi Hoàng Hạc, bên sông Trường Giang, huyện Vũ Xương, nay thuộc thành phố Vũ Hán, tỉ ỗ Bắc.2 Mạnh Hạo Nhiên 689 – 740 một nhà thơ nổi tiếng của Trung 7- .1 g. Mạnh Hạo Nhiên hơn Lí Bạch 12 tuổi, nhưng ho là đôi b3 Quảng Lăng tên một quận, thủ phủ là Dương Châu, đô thị phồn hoa vào bậc nhất ở thời Đường, nay là thành phố Dương Châu, tỉnh Giang Phiên âm Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu, Yên hoa tam nguyệthá Dương Châu. Cô phàm viễn ảnh bích không tận, Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu. Dịch nghĩa Bạn cũ giã từ lầu Hoàng Hạc, ở phía tây, Xuôi về Dương Châu giữa tháng ba, mùa hoa khói. Bóng cánh buồm lẻ loi xa dần, mất hút vào khoảng không xanh biếc, Chỉ thấy sông Trường Giang chảy vào cõi thơ Bạn từ lầu Hạc lên đường, Giữa mùa hoa khói, Châu Dương xuôi dòngBóng buồm đã khuất bầu không,Trông theo chỉ thấy dòng sông bên TẤT TỐ dịch, Thơ Đường, tập II, NXB Văn học, Hà Nội, 1987HƯỨNG DẫN HụC BằI 1. Xác lập mối quan hệ giữa không gian lầu Hoàng Hạc – sông Trường Giang – Dương Châu, thời gian tháng ba – mùa hoa khói và con người cố nhân… trong bài thơ. Mối quan hệ ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện khung cảnh và tâm tình người đưa tiễn ? 2. Sông Trường Giang là huyết mạch giao thông chính của miền Nam Trung Quốc. Mùa xuân trên sông Trường Giang hẳn có nhiều thuyền bè xuôi ngược, vì sao Lí Bạch lại chỉ thấy “cánh buồm lẻ loi” cô phàm của “cố nhân”? . Anh chị hãy tự đặt mình vào vị trí của người đưa tiễn nhìn theo cánh buồm dần xa và dòng sông chảy vào cõi trời để cảm nhận tâm tình của thi NHỞ3Với ngÔ q TA qAAAAAAAA AAAAL LqAAq qAAAAAAAAqqq MA AAAqAAAAAAAqq La L h ban sâu sắc chân thànhCủa hai nhà thơ lớn thời Thịnh Đường. Thời đại nào tình bạn cũng rất đáng trân TậP1. Người ta g ch Ro Ica y g là ở chỗ thể hiện được “ý tại ngôn ngoại” ý ở ngoài lời. Hãy tìm “ý tại ngôn ngoại” qua bài thơ này. . Các nhà thơ thời Đường rất trân trọng tình bạn. Anh chị hãy suy ngẫm về vị trí và ý nghĩa của tình bạn trong cuộc sống ngày nay. . Học thuộc bài thơ phần phiên âm và dịch thơ.这 atas l ܢܝܚܬܝ- – ܢL23144 ↡ Tài liệu trên trang là MIỄN PHÍ, các bạn vui lòng KHÔNG trả phí dưới BẤT KỲ hình thức nào!

hoàng hạc lâu tống mạnh hạo nhiên chi quảng lăng